Triệu chứng lâm sàng và kết quả cận lâm sang của bệnh loét dạ dày tá tràng

By:
Categories: Kinh nghiệm
No Comments

Loét dạ dày tá tràng là bệnh lý đường tiêu hóa phổ biến hiện nay. Bệnh xảy ra ở mọi quốc gia, mọi lứa tuổi. Theo thống kê, tỉ lệ bệnh ở các nước là 1 – 3% dân số và trong suốt một đời người khả năng mắc bệnh loét là 10%. Loét dạ dày tá tràng nếu không được phát hiện, xử lý kịp thời sẽ dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm.

Phân loại viêm loét dạ dày tá tràng

  • Viêm dạ dày mãn tính tiên phát
  • Viêm dạ dày cấp tính thứ phát
  • Các thể viêm dạ dày đặc biệt: Viêm dạ dày tự miễn, Viêm dạ dày phì đại Menetriez, Bệnh Crohn, Viêm tá tràng.

Loét dạ dày tá tràng tiên phát thường xảy ra ở trẻ bình thường khỏe mạnh không tìm thấy yếu tố liên quan. Triệu chứng có thể là đau bụng quanh rốn, cơn đau không điển hình gặp ở trẻ lớn có thể kèm theo đầy bụng, tức thượng vị, xuất huyết tiêu hóa.

Loét dạ dày tá tràng thứ phát biểu hiện đau đột ngột nặng nề và cấp tính hơn thể tiên phát, nôn máu, thủng, hiếm khi đau bụng. Đối với trẻ sơ sinh, loét chủ yếu ở dạ dày biểu hiện bằng thủng tạng rỗng hoặc xuất huyết tiêu hóa. Đối với trẻ 1 tháng – 3 tuổi thì loét kín đáo hơn, trẻ lười ăn, quấy khóc từng cơn sau ăn, bụng chướng, xuất huyết tiêu hóa. Đối với trẻ 3 -6 tuổi tỷ lệ mắc thấp hơn ở trẻ lớn với biểu hiện đau bụng xung quanh rốn có thể liên quan với bữa ăn, xuất huyết tiêu hóa. Đối với trẻ 6 – 18 tuổi mọi triệu chứng như người lớn như đau rát bỏng vùng thượng vị, đau lan ra sau lưng, hạ sườn trái, loét tá tràng có thể phối hợp với viêm niêm mạc dạ dày, xuất huyết tiêu hóa.

Các triệu chứng lâm sàng

Đau

Đau có chu kỳ. Vị trí đau khu trú ở vùng thượng vị. Loét dạ dày thì vị trí đau lệch về bên trái đường trắng giữa lan lên ngực sau mũi ức. Loét hành tá tràng vị trí đau lệnh về bên phải đường trắng giữa lan ra sau lưng.

  • Mức độ đau: thường âm ỉ, nhưng cũng có khi cơn đau trội lên.
  • Tính chất đau: đau theo giờ nhất định trong ngày.

Loét dạ dày đau xuất hiện sau ăn 1-2 giờ (gọi là đau khi no). Loét tá tràng đau thường xuất hiện sau khi ăn 4-6 giờ còn gọi là “đau khi đói” mỗi đợt kéo dài vài tuần. Cũng có trường hợp loét nhưng không đau gọi là “loét câm”. Thể này phát hiện được là do thủng hoặc do chảy máu.

Rối loạn tiêu hóa

Gồm triệu chứng đầy bụng, chậm tiêu, ăn kém, buồn nôn hoặc nôn, ợ hơi, ợ chua. Táo, lỏng thất thường (loét HTT thường hay táo bón).

Suy nhược thần kinh

Biểu hiện là hay cáu gắt, nhức đầu, mất ngủ, trí nhớ giảm.

Xem thêm: nội soi túi mật

Kết quả cận lâm sàng

  1. X-quang Dạ dày – tá tràng cản quang:

  • HTT bị biến dạng tùy thâm niên của tổn thương và giai đoạn có đợt tiến triển.
  • Trong các tổn thương “non trẻ”, HTT phình to ra và ổ loét trung tâm, xung quanh có bóng mờ (chỉ đè nén hoặc chụp đối quang kép mới thấy).
  • Trong các tổn thương “cũ” phù nề co thắt, xơ hóa làm biến dạng HTT, các nếp quy tụ vào ổ loét (niche) co kéo môn vị làm biến dạng HTT thành hình “nhép” các cánh của hình nhép này không đều nhau. Giữa các đợt đau, ổ loét mất đi nhưng biến dạng vẫn tồn tại do xơ co kéo. Những biến dạng này chứng tỏ sự tồn tại của bệnh loét.
  • Nhược điểm của phương pháp này: không thấy ổ loét nhỏ, ổ loét ở cao (tâm vị) hoặc nhiều hình ảnh giả thường nhầm lẫn.
  1. Nội soi Dạ dày – tá tràng

  • Loét dễ nhận thấy, đáy xám phủ Fibrin, đôi khi các nếp phù nề, phì đại che lấp mất ổ loét. Hình dạng của các ổ loét qua soi thường gặp là loét tròn (60%), ổ loét bờ không đều, ổ loét dạng súc xích, loét dài, hẹp.
  • Kích thước của các ổ loét HTT có thể rất nhỏ đến to. Có khi chiếm gần hết HTT, có thể 2-3 ổ loét.
  • Để phân biệt sẹo loét với sẹo dài, hẹp hoặc Salani người ta nhỏ Xanhmethylene vào, nó sẽ thấm và nhuộm Fibrin phủ lên và cho thấy có mất tổ chức.
  • Nội soi có sinh thiết thường làm trong loét DD để làm xét nghiệm tế bào và tìm H. Pylori.
  • Nội soi chính xác hơn X quang vì nhìn hình ảnh trực tiếp. LOÉT DẠ DÀY- TÁ TRÀNG
  1. Xét nghiệm dịch vị.

  2. Xét nghiệm huyết thanh tìm kháng thể H pylori.

  3. Test Urea qua hơi thở

Xem thêm: nội soi đại tràng

Your Thoughts